Wiki

Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam

“Hải quân Nhân dân Việt Nam” đổi hướng tới đây. Đối với các định nghĩa khác, xem Hải quân Nhân dân Việt Nam (định hướng).

Hải quân Nhân dân Việt Nam
Quân đội nhân dân Việt Nam
Bộ Quốc phòng Việt Nam
Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam
Quân kỳQuân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam
Quân hiệu
Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam

Chỉ huy
Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Trần Thanh Nghiêm
từ tháng 8 năm 2020


Quốc gia Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Việt Nam
Thành lập 7 tháng 5 năm 1955; 66 năm trước (1955-05-07)
Phân cấp Quân chủng (Nhóm 3)
Nhiệm vụ Bảo vệ chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên biển.
Quy mô ~45.000 người
Bộ phận của Bộ Quốc phòng Việt Nam
Bộ chỉ huy Bộ Tư lệnh Hải quân, số 27 Điện Biên Phủ, phường Minh Khai, quận Hồng Bàng, Hải Phòng
Tên khác Quân chủng Hải quân – Quân đội nhân dân Việt Nam
Khẩu hiệu Đảo là nhà, Biển cả là quê hương.
Hành khúc Lướt sóng ra khơi
Lễ kỷ niệm 5 tháng 8
Trang bị 6 tàu ngầm
9 tàu frigate
14 tàu corvette
54 tàu tuần tra
6 tàu đổ bộ
8 tàu quét mìn
1 tàu huấn luyện
11 tàu phụ trợ
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Chiến dịch phản công biên giới Tây-Nam Việt Nam
Hải chiến Trường Sa 1988
Thành tích
  • 2 Huân chương Sao vàng
  • Huân chương Hồ Chí Minh
  • 2 lần được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân 1988, 2015
Chỉ huy
Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Trần Thanh Nghiêm
Chính ủy Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Văn Bổng
Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Phạm Mạnh Hùng
Chỉ huy nổi bật Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Giáp Văn Cương
Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Mai Xuân Vĩnh
Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Phạm Hoài Nam
Phi cơ sử dụng
Cường kích Ka-27
Tuần tra C-212, DHC-6, EC225
Hiệu kỳ Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam

Quân chủng Hải quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam còn gọi là Hải quân Nhân dân Việt Nam, là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam. Quân chủng Hải quân là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên biển. Hải quân nhân dân Việt Nam có nhiệm vụ quản lý và kiểm soát chặt chẽ các vùng biển, hải đảo chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông; giữ gìn an ninh, chống lại mọi hành vi vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia của Việt Nam trên biển; bảo vệ các hoạt động bình thường của Việt Nam trên các vùng biển đảo, theo quy định của luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam; bảo đảm an toàn hàng hải và tham gia tìm kiếm cứu nạn theo pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, sẵn sàng hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng khác nhằm đánh bại mọi cuộc tiến công xâm lược trên hướng biển.

Hải quân nhân dân Việt Nam có 6 binh chủng: Tàu mặt nước, Hải quân đánh bộ, Tên lửa-Pháo bờ biển, Không quân Hải quân, Tàu ngầm, Đặc công Hải quân nhưng không tổ chức bộ tư lệnh riêng. Bao gồm các cấp đơn vị: hải đội, hải đoàn, binh đoàn Hải quân đánh bộ, binh đoàn tàu mặt nước, binh đoàn tàu ngầm, binh đoàn không quân, tên lửa bờ và các binh đoàn bộ đội chuyên môn, các đơn vị bảo đảm phục vụ ra đa, thông tin, kỹ thuật, hậu cần….

Lịch sử


Những bước sơ khai

Ngay sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, chính quyền Việt Minh tại nhiều tỉnh ven biển đã tổ chức các đội dân quân bảo vệ bờ biển. Nhiều chi đội Vệ quốc quân được điều về chốt giữ trên những địa bàn xung yếu. Các đơn vị sự này, tùy theo địa phương, mang tên gọi “Thủy quân” hoặc “Hải quân”, với biên chế không đồng đều, trang bị cũng không thống nhất, đều chịu sự chỉ huy trực tiếp của các chỉ huy quân sự địa phương. Như tại Đà Nẵng, có tổ chức thủy quân miền Nam Trung Bộ, lực lượng gồm khoảng 400 người. Tại Hải Phòng, Bộ Tư lệnh khu Duyên Hải tổ chức Ủy ban Hải quân Việt Nam, với lực lượng chiến đấu được tổ chức thành Đại đội Ký Con với quân số gần 200 người, phương tiện hoạt động gồm một tàu nhỏ mang tên Bạch Đằng và 3 ca nô có nhiệm vụ hoạt động ở cửa biển Hải Phòng và vùng ven biển Đông Bắc. Từ đầu tháng 9 năm 1945 đến giữa tháng 5 năm 1946, các đơn vị thủy quân địa phương này tổ chức đánh nhiều trận gây thiệt hại cho quân Pháp trong quá trình tìm cách tái chiếm Đông Dương. Nhiều đơn vị đã hoạt động cho đến Chiến tranh Đông Dương kết thúc.

Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, ngày 22 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 71/SL về Quân đội Quốc gia Việt Nam, chính thức thống nhất và chính quy hóa lực lượng quân sự quốc gia. Đến ngày 19 tháng 7 năm 1946, Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Huỳnh Thúc Kháng ra Quyết định số 125/QĐ thành lập trong Quân đội Quốc gia Việt Nam ngành Hải quân Việt Nam, đặt dưới quyền Bộ Quốc phòng về phương diện quản trị và Quân sự Ủy viên hội về phương diện điều khiển. Ngày 10 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Quân sự Ủy viên hội Võ Nguyên Giáp ra Nghị định số 103/NĐ thành lập “Cơ quan Hải quân” (sau gọi là Hải đoàn bộ), do một Hải đoàn trưởng điều khiển trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Nhiệm vụ của Hải đoàn bộ là tổ chức thủy đội tuần liễu và phỏng thủ duyên hải, tập trung các nhân viên, bộ đội thủy quân đã có trong Quân đội Quốc gia Việt Nam và tuyển lựa cựu thủy binh để thành lập ngay một tổ chức Hải quân. Tuy nhiên, do tình hình chiến sự lúc đó, các quyết định trên đều chưa có điều kiện thực hiện. Đến đầu năm 1947, xét thấy không thể duy trì lực lượng hải quân, Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia Việt Nam đã quyết định cho tháo gỡ máy móc, vũ khí, thiết bị và đánh đắm tàu để không lọt vào tay quân Pháp.

Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam ra Nghị định số 604/QĐ, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký, thành lập Ban Nghiên cứu Thủy quân thuộc Bộ Tổng tham mưu. Ông Nguyễn Văn Khương được cử làm Trưởng ban, ông Nguyễn Việt làm Chính trị viên và ông Trần Đình Vọng làm Phó ban. Cơ quan Ban Nghiên cứu Thủy quân đóng tại phố Giàn, bên bờ sông Chảy thuộc huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ.

Ban Nghiên cứu Thủy quân có 3 ban chuyên môn là: Hàng hải, Thông tin hàng hải, Điện cơ máy nổ và các bộ phận hành chính, quân sự, hậu cần. Nhiệm vụ của Ban Nghiên cứu Thủy quân là nghiên cứu phương án xây dựng và chiến đấu của lực lượng thủy quân, phù hợp với thực tiễn hiện tại (kháng chiến chống Pháp) và trong tương lai; tập hợp đội ngũ cán bộ, công nhân viên hải quân cũ (từng phục vụ trong chính quyền thuộc địa), tạo điều kiện xây dựng cơ sở ban đầu; tuyển mộ, huấn luyện đào tạo một đội ngũ thủy quân cách mạng, trẻ, có trình độ khoa học kỹ thuật hàng hải. Trước đó, khi nghe báo cáo và đề nghị thành lập Ban Nghiên cứu Thủy quân và mở lớp thủy quân của Bộ Tổng Tham mưu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị nhiệm vụ đầu tiên của Ban Nghiên cứu Thủy quân là huấn luyện xây dựng một đội du kích có khả năng hoạt động trên sông, rồi từ sông mới tiến ra biển khi có điều kiện.

Tháng 2 năm 1950, khóa học thủy quân đầu tiên được khai giảng, gồm 180 học viên được tuyển chọn từ các đơn vị bộ binh, dân quân du kích vùng ven biển Đông Bắc, một số là học sinh các trường trung học ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Yên, tổ chức thành một tiểu đoàn huấn luyện, do ông Trần Lưu Thông làm Tiểu đoàn trưởng. Đội ngũ giáo viên khoảng 10 người, đều là các nhân sự từng là thủy binh trong Hải quân Pháp hoặc trong ngành hàng hải Pháp. Cả Ban Nghiên cứu Thủy quân và tiểu đoàn huấn luyện mang phiên hiệu chung là Đội sản xuất 71.

Chương trình huấn luyện thủy quân bấy giờ gồm quân sự, chính trị, chuyên môn, trong đó tập trung huấn luyện một số nội dung kỹ thuật, chiến thuật của bộ binh chiến đấu trong môi trường sông biển như bắn súng trên tàu thuyền, trên ca nô, tập bơi, lặn, tập chèo thuyền, chèo xuồng, tập động tác đổ bộ (từ bờ lên thuyền và từ thuyền nhảy xuống tiếp cận bờ triển khai đội hình chiến đấu), tập sử dụng hải đồ, xác định vị trí tàu trên biển bằng phương pháp quan sát, đo đạc các mục tiêu địa văn và theo kinh nghiệm của nhân dân (nhìn trăng, sao, xem thủy triều, hướng gió…), học cách sử dụng các phương tiện thông tin đơn giản (cờ, đèn…). Trong điều kiện chiến tranh, các học cụ đều rất thô sơ và ít có điều kiện thực hành.

Khoảng vào tháng 5 năm 1950, Bộ Tổng Tham mưu ra chỉ thị chọn khoảng 100 học viên của Ban Nghiên cứu Thủy quân, đưa sang đảo Nào Cháu (Điều Thuận), một hòn đảo nằm ở phía đông bán đảo Lôi Châu (Trung Quốc), bấy giờ dưới quyền quản lý chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đồng minh thân cận với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, để học tập nâng cao trình độ. Bộ phận khung ở lại, chiêu sinh khoảng 100 học viên để đào tạo thủy quân khóa 2. Ngày 10 tháng 8 năm 1950, Đội Thủy binh 71 được thành lập dưới sự chỉ đạo của Ban Nghiên cứu Thủy quân, đóng quân tại làng Cò, gần phố Giàn, huyện Đoan Hùng (Phú Thọ).

Đến giữa tháng 4 năm 1951, khi khóa II vừa kết thúc được ít ngày, và các học viên học ở Trung Quốc trở về, do yêu cầu góp phần duy trì chiến tranh du kích ở vùng Đông Bắc và châu thổ duyên hải Bắc Bộ, Bộ Quốc phòng quyết định giải thể Ban Nghiên cứu Thủy quân và Đội Thủy binh 71. Phần lớn học viên khóa I và một số học viên khóa II được chuyển ra các vùng Hòn Gai, Hải Ninh, Quảng Yên, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở các địa bàn ven biển. Một bộ phận học viên chuyển về Đại đoàn Công pháo 351 và các đại đoàn bộ binh đang trong quá trình xây dựng. Bộ phận lực lượng còn lại về nhận công tác ở các liên khu, Bộ Tổng tư lệnh, hoặc đi học ở Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn.

Hình thành lực lượng Hải quân

Sau thắng lợi quyết định tại trận Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève, 1954 được ký kết, để chuẩn bị cho việc tiếp quản miền Bắc Việt Nam, đầu tháng 8 năm 1954, Bộ Quốc phòng đã điều động 7 nhân sự trước đây từng ở Ban Nghiên cứu Thủy quân và Đội Thủy binh 71 về Cục tác chiến để thành lập bộ phận nghiên cứu lực lượng bảo vệ vùng biển. Tháng 1 năm 1955, thêm 4 cán bộ được bổ sung. Ông Nguyễn Bá Phát, nguyên Tham mưu trưởng Liên khu 5, Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 308 được giao nhiệm vụ trực tiếp phụ trách bộ phận này. Bộ phận được giao 3 nhiệm vụ chính: Thăm dò cơ sở để tổ chức lực lượng tự sản xuất phương tiện tàu, thuyền; Nghiên cứu địa hình và tình hình trên vùng ven biển miền Bắc để xác định kế hoạch bố trí lực lượng bảo vệ bờ biển; Xây dựng đề án tổ chức, xây dựng lực lượng phòng thủ bờ biển.

Sau khi kiểm soát hoàn toàn miền Bắc Việt Nam, ngày 26 tháng 4 năm 1955, Bộ Quốc phòng đã thành lập Trường Huấn luyện bờ biển để đào tạo nhân sự cho việc quản lý trên 800 km dải bờ biển miền Bắc từ Móng Cái đến vĩ tuyến 17 (Quảng Trị). Chưa đầy 2 tuần sau, ngày 7 tháng 5 năm 1955, Bộ Quốc phòng – Tổng tư lệnh ra Nghị định số 284/NĐ-A thành lập Cục Phòng thủ bờ biển. Nhiệm vụ của Cục là giúp Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo bộ đội phòng thủ bờ biển; đào tạo cán bộ, nhân viên, thủy thủ; sản xuất các dụng cụ, phương tiện về thủy quân; xây dựng các thủy đội phòng thủ bờ biển rồi chuyển giao cho các liên khu (sau này là quân khu). Ông Nguyễn Bá Phát được cử làm phụ trách Cục. Về sau, ngày 7 tháng 5 được chọn làm ngày thành lập của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Sau khi thành lập, Cục Phòng thủ bờ biển quyết định tự đóng 20 tàu gỗ 20 tấn lắp máy ô tô làm phương tiện hoạt động, bên cạnh 36 thuyền buồm và lực lượng gồm 6 tiểu đoàn, xây dựng thành lực lượng tuần duyên. Ngày 24 tháng 8 năm 1955, Bộ Quốc phòng đã thành lập hai thủy đội Sông Lô và Bạch Đằng. Đây được xem là những đơn vị chiến đấu chính quy đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Ngày 24 tháng 1 năm 1959, Cục Phòng thủ bờ biển chuyển đổi thành Cục Hải quân trực thuộc Bộ Quốc phòng . Tổ chức biên chế của Cục Hải quân gồm 5 phòng (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, công trình và Đo đạc biển); 5 đơn vị trực thuộc: Trường Huấn luyện bờ biển (đổi thành Trường Huấn luyện hải quân), Đoàn 130, Đoàn 135, tiểu đoàn công binh 145 và Xưởng 46. Ngày 20 tháng 4 năm 1959, thành lập Đảng bộ Cục Hải quân trực thuộc và đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng Quân ủy.

Các đơn vị chiến đấu lần lượt cũng được thành lập như ngày 18 tháng 5 năm 1959, thành lập Đoàn 135 (sau này đổi thành 140), đơn vị tàu tuần tiễu; ngày 3 tháng 8 năm 1961, thành lập căn cứ Hải quân I và căn cứ Hải quân II.

Từ sự kiện Quảng Khê đến sự kiện Vịnh Bắc Bộ

Đầu tháng 4 năm 1961, CIA phối hợp với Sở Khai thác địa hình thuộc Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa tổ chức cho điệp viên Ares thâm nhập miền Bắc Việt Nam bằng đường biển. Với lực lượng hải quân tuần tiễu còn non yếu của Hải quân nhân dân Việt Nam, tàu Nautilus 1 của CIA dễ dàng thâm nhập bờ biển Quảng Ninh. Sau đó, tàu CIA có thêm vài lần đưa điệp viên thâm nhập hoặc tiếp tế thành công. Trên cơ sở đó, CIA quyết định tổ chức tập kích vào căn cứ hải quân Quảng Khê của Hải quân nhân dân Việt Nam, nằm gần cửa sông Giang, thuộc tỉnh Quảng Bình. Mục tiêu là 3 chiếc tàu pháo thuộc lớp Swatow do Trung Quốc đóng. Trận tập kích diễn ra rạng sáng ngày 30 tháng 6 năm 1962, được đánh giá là thành công khi tiêu diệt được 2 tàu, nhưng cũng trả một giá rất đắt: toàn bộ thành viên tham gia tập kích đều bị giết hoặc bị bắt sống, tàu vận tải Nautilus 2 của bị tàu pháo T-161 của Hải quân nhân dân Việt Nam tiêu diệt, chỉ duy nhất một thành viên là Nguyễn Văn Ngọc thoát được.

Ngày 3 tháng 1 năm 1964, Cục Hải quân đổi tên thành Bộ Tư lệnh Hải quân

Ngày 5 tháng 8 năm 1964, ngày đánh trả thành công chiến dịch Mũi Tên Xuyên – cuộc tập kích đầu tiên bằng không quân của Mỹ vào miền Bắc Việt Nam.

Ngày 13 tháng 4 năm 1966, thành lập Đoàn 126 (Đoàn Đặc công Hải quân nay là Lữ đoàn 126)

Đoàn tàu không số

Ngày 23 tháng 10 năm 1961, thành lập Đoàn 759 (Đoàn Vận tải Quân sự đường biển nay là Lữ đoàn 125). Nhiệm vụ chính của đơn vị này khi mới thành lập là bí mật vận tải vũ khí, cán bộ bằng đường biển (Đường Hồ Chí Minh trên biển) từ miền Bắc vào miền Nam chi viện cho Quân Giải phóng miền Nam chiến đấu trong Chiến tranh Việt Nam.

Thời kỳ đó, căn cứ của lữ đoàn là bến Bính (số hiệu là K20) ở Hải Phòng. Đơn vị sử dụng các tàu vận tải cỡ nhỏ thâm nhập miền Nam tại các căn cứ ở bến Sông Gianh (Quảng Bình), Sa Kỳ (Quảng Ngãi), Vũng Rô (Phú Yên), Lộc An (Bà Rịa – Vũng Tàu), Thạnh Phong (Bến Tre) và Vàm Lũng (Cà Mau).

Trong Chiến tranh Việt Nam, đơn vị đã sử dụng các tàu vận tải cỡ nhỏ để thâm nhập vào miền Nam. Mặc dù có số hiệu đầy đủ, song để giữ bí mật, các tàu này không sơn số hiệu lên thân tàu. Vì thế, những con tàu này được biết đến với tên gọi chung là Đoàn tàu Không số.

Sau năm 1975

Ngày 5 tháng 9 năm 1975, sáp nhập Trung đoàn 126, Trung đoàn 46 thành Lữ đoàn 126 Hải quân đánh bộ

Ngày 13 tháng 9 năm 1975, tổ chức các đơn vị phòng thủ đảo.

Ngày 26 tháng 10 năm 1975, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 141/QĐ-QP thành lập 5 vùng duyên hải thuộc Bộ Tư lệnh hải quân.

Năm 1978 giải thể vùng 2 và đổi tên vùng duyên hải thành vùng hải quân.

Ngày 5 tháng 7 năm 1978, thành lập Trung đoàn 147 Hải quân đánh bộ nay là Lữ đoàn 147

Ngày 23 tháng 6 năm 1979, thành lập Tiểu đoàn Tên lửa 679 trực thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân (nay là Lữ đoàn 679)

Ngày 14 tháng 3 năm 1988, Hải quân nhân dân Việt Nam đụng độ với Hải quân Trung Quốc tại đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao.

Hiện đại hóa trong thời kỳ mới

Ngày 31 tháng 8 năm 1998, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam làm lễ ra mắt.

Tháng 11 năm 2008, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam trở thành một lực lượng độc lập với Hải quân nhân dân Việt Nam.

Ngày 14 tháng 1 năm 2011, Bộ Quốc phòng ra Quyết định nâng cấp Bộ Chỉ huy Vùng Hải quân lên thành Bộ Tư lệnh Vùng Hải quân

Ngày 3 tháng 7 năm 2013, thành lập Lữ đoàn Không quân hải quân 954, hình thành lực lượng không quân hải quân đầu tiên.

Lãnh đạo hiện nay


Tư lệnh: Chuẩn Đô đốc Trần Thanh Nghiêm

Chính ủy: Phó Đô đốc Nguyễn Văn Bổng

Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng: Chuẩn Đô đốc Phạm Mạnh Hùng

Phó Tư lệnh: Chuẩn Đô đốc Lương Việt Hùng

Phó Tư lệnh: Chuẩn Đô đốc Phạm Như Xuân

Phó Tư lệnh: Chuẩn Đô đốc Phan Tuấn Hùng

Phó Tư lệnh: Chuẩn Đô đốc Hoàng Hồng Hà

Phó Chính ủy: Chuẩn Đô đốc Đặng Minh Hải

Tổ chức chính quyền


Sơ đồ tổ chức

Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Hải quân nhân dân Việt Nam diễu binh tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN năm 2010

Trước năm 1981, quân hàm cấp tướng của quân chủng hải quân chưa có tên gọi riêng. Từ năm 1981, quân hàm các cấp tướng trong hải quân mới có tên gọi riêng, theo cách gọi của Liên Xô: Đô đốc (tương đương Thượng tướng), Phó Đô đốc (tương đương Trung tướng), Chuẩn Đô đốc (tương đương Thiếu tướng), được quy định lần đầu tiên trong Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1981. Về phù hiệu và cấp hiệu quân hàm xem bài Quân đội nhân dân Việt NamQuân hàm Quân đội nhân dân Việt Nam

Trong lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam chỉ mới có 2 sĩ quan Hải quân lên tới cấp Đô đốc là Giáp Văn Cương (phong năm 1988) và Nguyễn Văn Hiến (phong năm 2011).

Theo Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (2014):

  • Chỉ phong Đô đốc tương đương Thượng tướng khi Tư lệnh và Chính ủy Quân chủng Hải quân Việt Nam kiêm nhiệm một trong những chức vụ như: Thứ trưởng Quốc phòng, Phó Tổng tham mưu trưởng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị.
  • Phó Đô đốc tương đương Trung tướng là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ Tư lệnh và Chính ủy Quân chủng Hải quân.
  • Chuẩn Đô đốc tương đương Thiếu tướng là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ Phó Tư lệnh và Phó Chính ủy Quân chủng Hải quân, Tư lệnh và Chính ủy Bộ Tư lệnh Vùng Hải quân. Tham mưu phó Quân chủng Hải quân & Phó chủ nhiệm chính trị Quân chủng Hải quân.
  • Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm Tư lệnh và Chính ủy Quân chủng Hải quân.
Sĩ quan
Cấp hiệu cầu vai Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam
Cấp hiệu ve cổ Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam
Cấp hiệu tay áo Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam
Cấp bậc Quân hàm Đô đốc Phó Đô đốc Chuẩn đô đốc Đại tá Thượng tá Trung tá Thiếu tá Đại úy Thượng úy Trung úy Thiếu úy
Chức vụ
  • Thứ trưởng Bộ Quốc phòng/ Phó Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam/ Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam kiêm Tư lệnh Quân chủng Hải quân.
  • Tư lệnh và Chính ủy Quân chủng Hải quân.
  • Tham mưu trưởng và Tham mưu phó Quân chủng Hải quân.
  • Phó Tư lệnh và Phó Chính ủy Quân chủng Hải quân.
  • Tư lệnh và Chính ủy Bộ Tư lệnh Vùng Hải quân.
  • Chủ nhiệm và Phó Chủ nhiệm chính trị Quân chủng.
  • Tham mưu phó Quân chủng Hải quân.
  • Phó chủ nhiệm chính trị.
  • Lữ đoàn trưởng và Chính ủy Lữ đoàn Hải quân.
  • Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Vùng Hải quân.
  • Phó Tư lệnh và Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Vùng Hải quân.
  • Lữ đoàn phó và Phó Chính ủy Lữ đoàn Hải quân.
  • Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Vùng Hải quân.
  • Tiểu đoàn trưởng/ Hải đoàn trưởng Hải quân.
  • Chính trị viên Tiểu đoàn/Hải đoàn Hải quân.
  • Tiểu đoàn phó/Hải đoàn phó.
  • Chính trị viên phó Tiểu đoàn/Chính trị viên phó Hải đoàn.
Học viên Hạ sĩ quan Chiến sĩ
Cấp hiệu cầu vai Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam
Cấp hiệu ve cổ Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam Không có Không có Không có Không có Không có
Cấp bậc Học viên Sĩ quan Thượng sĩ Trung sĩ Hạ sĩ Binh nhì Binh nhất

Tư lệnh qua các thời kỳ


Xem bài: Tư lệnh Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam

Chính ủy qua các thời kỳ


STT Họ tên Thời gian đảm nhiệm Cấp bậc Chức vụ cuối cùng Ghi chú
1 Tạ Xuân Thu
(1916-1971)
1964-1966 Thiếu tướng (1961) Chính ủy Học viện Quân sự Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng Hải quân
2 Hoàng Trà
(1922-)
1966-1967 Đại tá
1975-1979 Thiếu tướng (1974) Phó Chủ nhiệm Chính trị Tổng cục Hậu cần
3 Đoàn Phụng 1967-1969 Đại tá (1961)
4 Lương Tuấn Khang 1969-1970 Đại tá (1966) Chính ủy Quân khu Tả ngạn
5 Trần Văn Giang
(1924-2016)
1974-1975 Đại tá (1974)
1981-1986 Chuẩn Đô đốc (1980)
6 Lê Văn Xuân
(1929-)
1987-1995 Chuẩn đô đốc (1984)
Phó đô đốc (1992)
7 Võ Nhân Huân
(1946-1999)
1995-1999 Đại tá (1995)
Chuẩn Đô đốc (1999)
Quyền Tư lệnh Quân chủng Hải quân (1999-1999) Qua đời khi đang làm nhiêm vụ
8 Nguyễn Văn Tình
(1945-)
2000-2008 Chuẩn đô đốc (2001)
Phó Đô đốc (2004)
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1969)
9 Trần Thanh Huyền
(1952-)
2008-2012 Chuẩn Đô đốc (2006)
Phó Đô đốc (2010)
10 Đinh Gia Thật
(1957-)
2012 – tháng 7 năm 2017 Chuẩn Đô đốc (2011)
Phó Đô đốc (9.2015)
11 Trần Hoài Trung
(1965-)
Tháng 7 năm 2017 – tháng 9 năm 2018 Chuẩn đô đốc (2014)
Phó Đô đốc (2018)
Chính ủy Quân khu 7 (2018-nay)
12 Phạm Văn Vững 2018-2019 Chuẩn đô đốc (2016)
13 Nguyễn Văn Bổng
(1966-)
2019-nay Chuẩn đô đốc (2015)
Phó Đô đốc (2019)
Nguyên Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng

Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng


Xem bài: Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam

Phó Tư lệnh qua các thời kỳ


STT Họ tên Thời gian đảm nhiệm Cấp bậc Ghi chú
1 Nguyễn Dưỡng (1928 – ?) 1980 – 1990 Chuẩn Đô đốc (1980)
2 Phạm Minh (1929 – ?) 1988 – 1993 Chuẩn Đô đốc (1988) nguyên Tư lệnh Bộ Tư lệnh Vùng 1 Hải quân Nhân dân Việt Nam
3 Phan Khuê Tảo 2004 – 2010 Chuẩn Đô đốc (2002) nguyên Tư lệnh Quân đoàn 1 Quân đội nhân dân Việt Nam (2002-2004)
4 Lê Văn Đạo Chuẩn Đô đốc (2006)
5 Trần Đình Xuyên 2008 – 2012 Chuẩn Đô đốc (2008)
6 Nguyễn Viết Nhiên 2009 – 2017 Chuẩn Đô đốc (2009)
7 Nguyễn Văn Ninh 2010 – 2016 Chuẩn Đô đốc (2010) nguyên Cục trưởng Cục Kỹ thuật Quân chủng Hải quân, hiện nay là Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật.
8 Lê Minh Thành 2012 – 2018 Chuẩn Đô đốc (2012) , nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 370, Quân chủng Phòng không – Không quân.
9 Phạm Xuân Điệp 2014 – 2018 Chuẩn Đô đốc (2012) nguyên Tư lệnh Vùng 2 Hải quân Nhân dân Việt Nam;

Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng (2015-2017).

10 Ngô Sĩ Quyết Tháng 5 năm 2015 – tháng 6 năm 2019 Chuẩn Đô đốc (2012) nguyên Tư lệnh Vùng 3 Hải quân Nhân dân Việt Nam.
11 Nguyễn Trọng Bình Tháng 6 năm 2016 – tháng 1 năm 2017

Tháng 7 năm 2019 – tháng 9 năm 2019

Chuẩn Đô đốc (2016) Phó Tổng Tham mưu trưởng (tháng 9 năm 2019 – nay).
12 Hoàng Hồng Hà Tháng 6 năm 2016 – nay Chuẩn Đô đốc (2016) nguyên Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân chủng Hải quân.
13 Lương Việt Hùng Tháng 7 năm 2017 – nay Chuẩn Đô đốc (2015) nguyên Tư lệnh Vùng 2 Hải quân Nhân dân Việt Nam.
14 Phạm Mạnh Hùng Tháng 9 năm 2018 – tháng 9 năm 2020 Chuẩn Đô đốc (2017) nguyên Tư lệnh Vùng 5 Hải quân Nhân dân Việt Nam.
15 Phạm Như Xuân Tháng 5 năm 2019 – nay Chuẩn Đô đốc (2019) nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 372, Quân chủng Phòng không – Không quân.
16 Phan Tuấn Hùng Tháng 6 năm 2020- nay Chuẩn Đô đốc (2019) nguyên Tư lệnh Vùng 4 Hải quân Nhân dân Việt Nam.

Phó Chính ủy qua các thời kỳ


STT Họ tên Thời gian đảm nhiệm Cấp bậc Ghi chú
1 Nguyễn Cộng Hòa 2008-2011 Chuẩn Đô đốc (tháng 1 năm 2008) nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Hải quân
2 Đinh Gia Thật 2011-2013 Chuẩn Đô đốc (2011) Chính ủy Quân chủng Hải quân
3 Nguyễn Ngọc Tương 2013 – tháng 7 năm 2015 Chuẩn Đô đốc (2013)

Phó Đô đốc (2016)

nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Hải quân;

Phó Chính ủy Học viện Quốc phòng.

4 Đặng Minh Hải 7/2015-nay Chuẩn Đô đốc (2013) nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Hải quân

Các tướng lĩnh khác


STT Họ tên Cấp bậc Ghi chú
1 Đỗ Viết Cường Chuẩn Đô đốc (tháng 1 năm 2008) nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân
2 Nguyễn Văn Kiệm Chuẩn Đô đốc nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân
3 Lê Kế Lâm Chuẩn Đô đốc nguyên Giám đốc Học viện Hải quân
4 Phạm Hồng Thuận Chuẩn Đô đốc nguyên Giám đốc Học viện Hải quân
5 Ngô Văn Phát Chuẩn Đô đốc nguyên Chính ủy Vùng 5 Hải quân
6 Nguyễn Đức Nho Chuẩn Đô đốc (2013) Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân
7 Nguyễn Thế Ân Chuẩn Đô đốc Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân
8 Mai Tiến Tuyên Chuẩn Đô đốc nguyên Chính ủy Vùng 2 Hải quân
9 Bùi Sỹ Trinh Chuẩn Đô đốc nguyên Phó Chủ nhiệm chính trị Quân chủng
10 Phạm Thanh Hóa Chuẩn Đô đốc nguyên Chính ủy Vùng 4 Hải quân
11 Doãn Văn Sở Chuẩn Đô đốc Nguyên Tư lệnh Vùng 5 Hải quân
12 Phạm Ngọc Chấn Chuẩn Đô đốc nguyên Chủ nhiệm chính trị Quân chủng (2008 – 2012)
13 Nguyễn Tiến Dũng Chuẩn Đô đốc nguyên Chính ủy Vùng 3 Hải quân
14 Nguyễn Phong Cảnh Chuẩn Đô đốc Chính ủy Vùng 2 Hải quân
15 Đỗ Minh Thái Chuẩn Đô đốc Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân
16 Phạm Văn Điển Chuẩn Đô đốc nguyên Tư lệnh Vùng 1 Hải quân
17 Phạm Văn Hoành Chuẩn Đô đốc Tư lệnh Vùng 4 Hải quân
18 Phạm Văn Sơn Chuẩn Đô đốc nguyên Phó Chủ nhiệm Chính trị, Quân chủng Hải quân
19 Phạm Văn Luyện Chuẩn Đô đốc Chính ủy Học viện Hải quân, Phó Chủ nhiệm chính trị Hải quân
20 Phạm Văn Quang Chuẩn Đô đốc Chính ủy Vùng 1 Hải quân, Phó Chủ nhiệm chính trị Hải quân
21 Lê Bá Sổ Chuẩn Đô đốc Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân
22 Ngô Quang Tiến Chuẩn Đô đốc nguyên Giám đốc Học viện Hải quân
23 Nguyễn Đăng Nghiêm Chuẩn Đô đốc nguyên Tổng Giám đốc Tân Cảng Sài Gòn
24 Đoàn Văn Chiều Chuẩn Đô đốc Chủ nhiệm Chính trị, Quân chủng Hải quân
25 Nguyến Đức Vượng Chuẩn Đô đốc Chính ủy Vùng 4 Hải quân
26 Đỗ Quốc Việt Chuẩn Đô đốc Tư lệnh Vùng 3 Hải quân
27 Mai Trọng Định Chuẩn Đô đốc Chính ủy Vùng 3 Hải quân
28 Trần Ngọc Quyết Chuẩn Đô đốc Tư lệnh Vùng 1 Hải quân, phó Tổng tham mưu Hải Quân
29 Nguyễn Văn Lâm Chuẩn Đô đốc Giám đốc Học viện Hải quân (2018)
30 Phạm Khắc Lượng Chuẩn Đô đốc nguyên Tư lệnh Vùng 2 Hải quân (2018)
31 Ngô Văn Thuân Chuẩn Đô đốc Chính ủy Vùng 5 Hải quân (2018), Phó Chủ nhiệm chính trị Hải quân, Chính úy Vùng 4 (2020)
32 Nguyễn Thế Tốt Chuẩn Đô đốc Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Hải quân (2019)
33 Chu Ngọc Sáng Chuẩn Đô đốc Chính ủy Học viện Hải quân

Trang bị


Xem chi tiếtː Trang bị Quân đội nhân dân Việt Nam

Phong tặng


  • 2 Huân chương Sao vàng (lần 2 năm 2010)
  • Danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Lệnh số 316/KT-HĐNN8, ngày 13 tháng 12 năm 1989. Lần 2 năm 2015.
  • 1 Huân chương Sao vàng (thành tích 30 năm xây dựng Quân chủng, Lệnh số 721/KT-HĐNN7 ngày 18 tháng 7 năm 1985).
  • 1 Huân chương Hồ Chí Minh (thành tích 20 năm xây dựng trưởng thành và làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, ngày 18 tháng 3 năm 1979).
  • 1 Huân chương Độc lập hạng Nhất (nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam và thời kỳ Đổi mới), Lệnh số 166/KT-CTN ngày 4 tháng 5 năm 2000.
  • 1 Huân chương Độc lập hạng Nhì (thành tích 10 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân chủng, Lệnh số 9/LCT ngày 29 tháng 8 năm 1965).
  • 1 Huân chương Quân công hạng Nhất (thành tích 40 năm xây dựng và chiến đấu của Quân chủng, Lệnh số 580/KT-CTN ngày 10 tháng 12 năm 1984).
  • 1 Huân chương Quân công hạng Nhì (về thành tích xuất sắc trong chiến đấu đánh thắng trận đầu, Lệnh số 31/LCT ngày 7 tháng 8 năm 1964).
  • 1 Huân chương Quân công hạng Nhì thành tích làm nhiệm vụ chiến đấu ở Tây Nam và nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, Lệnh số 286/HĐNN7 ngày 20 tháng 3 năm 1983).
  • 1 Huân chương Lao động hạng Ba.

Back to top button