Wiki

Trường Đại học Nguyễn Huệ

Trường Đại học Nguyễn Huệ
Quân đội nhân dân Việt Nam
Trường Đại học Nguyễn Huệ
Quân kỳTrường Đại học Nguyễn Huệ
Quân hiệu
Quốc gia Trường Đại học Nguyễn Huệ Việt Nam
Thành lập 27 tháng 8 năm 1961; 59 năm trước (1961-08-27)
Phân cấp Đại học Công lập (nhóm 3)
Nhiệm vụ Đào tạo Đại học Cao đẳng Sĩ quan Lục quân
Quy mô 6.000 người
Bộ phận của Trường Đại học Nguyễn Huệ Bộ Quốc phòng
Bộ chỉ huy Tam Phước, Biên Hòa, Đồng Nai
Website daihocnguyenhue.edu.vn
Chỉ huy
Hiệu trưởng Trường Đại học Nguyễn Huệ Nguyễn Ngọc Cả
Chính ủy Trường Đại học Nguyễn Huệ Nguyễn Xuân Sơn

Trường Đại học Nguyễn Huệ hay là Trường Sĩ quan Lục quân 2 trực thuộc Bộ Quốc phòng là một trung tâm đào tạo sĩ quan chỉ huy lục quân cấp phân đội (trung đội, đại đội, tiểu đoàn) ở khu vực phía Nam, Việt Nam. Bắt đầu từ năm 1998, nhà trường được Chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo bậc đại học quân sự. Các chuyên ngành đào tạo đại học và cao đẳng quân sự gồm: Binh chủng hợp thành; Trinh sát bộ binh; Trinh sát đặc nhiệm.

Lịch sử


  • Ngày 27.8.1961, tại ấp Lò Gò, Xóm Rẫy, xã Hoà Hiệp (trước đây thuộc huyện Châu Thành, nay thuộc huyện Tân Biên), Trường Quân chính sơ cấp Quân giải phóng miền Nam- tiền thân của Trường Sĩ quan Lục quân 2 đã ra đời. Trường đặt dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục và sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Quân sự Miền. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhà trường đã di chuyển đến nhiều địa điểm, kể cả trên đất bạn Campuchia, với nhiều tên gọi, phiên hiệu khác nhau. Cùng với nhiệm vụ đào tạo, nhà trường còn trực tiếp tham gia nhiều trận chiến đấu, lập nhiều chiến công xuất sắc, tiêu diệt hàng ngàn tên địch, bắn cháy và phá huỷ hàng chục máy bay, xe tăng, thu hàng trăm vũ khí các loại và phương tiện chiến tranh của địch.
  • Sau ngày miền Nam giải phóng, nhà trường được về tiếp quản thị xã Thủ Dầu Một, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ huấn luyện. Ngày 10.10.1975, Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Trường Sĩ quan Lục quân 2 trên cơ sở Trường Lục quân tổng hợp H28, trực thuộc Bộ Quốc phòng, đóng quân ở xã Hoà Hiệp, huyện Tân Biên. Tháng 12.1975, nhà trường chuyển về đóng quân tại căn cứ Nước Trong, thuộc xã Tam Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, tiếp tục làm nhiệm vụ đào tạo sĩ quan chỉ huy binh chủng hợp thành cấp phân đội cho quân đội.
  • Ngày 28.10.2010, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định thành lập Trường đại học Nguyễn Huệ trên cơ sở nâng cấp Trường Sĩ quan Lục quân 2. Từ đây, Nhà trường có 2 tên gọi khác nhau: Trường Sĩ quan Lục quân 2 là tên dùng trong quân đội; Trường Đại học Nguyễn Huệ là tên giao dịch dân sự, giao dịch quốc tế.

Tên gọi qua các thời kỳ


  • Trường Quân chính sơ cấp Miền (phiên hiệu C86): Từ 27/8/1961 – 4/1964.
  • Trường Quân chính Trung – sơ cấp Miền (phiên hiệu H12): Từ 4/1964 – 12/1969.
  • Trường Quân chính sơ cấp Miền (phiên hiệu H12): Từ 1969 – 1973.
  • Trường Lục quân Tổng hợp (phiên hiệu H28): Từ 01/1973 – 10/10/1975.
  • Trường Sĩ quan Lục quân 2: Từ 10/10/1975 đến nay.
  • Ngày 28/10/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1973/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Nguyễn Huệ trên cơ sở nâng cấp Trường Sĩ quan Lục quân 2.

Lãnh đạo hiện nay


  • Hiệu trưởng: Trung tướng, Phó Giáo sư,Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Cả
  • Chính ủyː Thiếu tướng Thạc sĩ Nguyễn Xuân Sơn
  • Phó Hiệu trưởng: Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo ưu tú Vũ Thanh Hiệp
  • Phó Hiệu trưởng: Thiếu tướng Lê Đức Thảo
  • Phó Hiệu trưởng: Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Sỹ
  • Phó Chính ủyː Thiếu tướng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Hoàng Ngân

Tổ chức Đảng bộ


Năm 2006, thực hiện chế độ Chính ủy, Chính trị viên trong Quân đội. Theo đó Đảng bộ trong Trường Sĩ quan Lục quân 2 bao gồm:

  • Đảng bộ Trường Sĩ quan Lục quân 2 là cao nhất.
  • Đảng bộ cơ sở ở các Hệ, Tiểu đoàn quản lý học viên, khoa, Phòng thuộc Trường Sĩ quan Lục quân 2.
  • Chi bộ cơ sở các Tiểu đoàn, khoa, ban chức năng; chi bộ trực thuộc ở các Bộ môn, các ban, đơn vị cấp đại đội và tương đương.

Tổ chức chính quyền


Các Phòng, Ban chức năng

  • Phòng Đào tạo
  • Phòng Chính trị
  • Phòng Khoa học Quân sự
  • Phòng Tham mưu – Hành chính
  • Phòng Hậu cần
  • Phòng Kỹ thuật
  • Ban Tài chính
  • Ban Khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục đào tạo
  • Ban Sau Đại Học

Các Khoa

  • Khoa Cơ bản
  • Khoa Lý Luận Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
  • Khoa Công tác Đảng, công tác chính trị
  • Khoa Ngoại ngữ
  • Khoa Chiến thuật
  • Khoa Binh chủng
  • Khoa Sư phạm Quân sự
  • Khoa Trinh sát
  • Khoa Kỹ thuật Bộ binh
  • Khoa Thể dục – Thể thao
  • Khoa Quân Sự chung
  • Khoa Quân sự địa phương

Các đơn vị quản lý học viên

  • Hệ: 1, 2, 3, 4
  • Các Tiểu đoàn: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11

Tặng thưởng


  • Đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân (1996).
  • 01 Huân chương Hồ Chí Minh (2006).
  • 01 Huân chương Quân công hạng Nhất (1984).
  • 01 Huân chương Quân công hạng Nhì (2011)
  • 01 Huân chương Quân công hạng Ba (2001).
  • 01 Huân chương Chiến công hạng Nhất (1971).
  • 02 Huân chương Chiến công hạng Hai (1968, 1981).
  • 04 Huân chương Chiến công hạng Ba (1962, 1966, 1975, 1997).
  • 01 Huân chương Hữu nghị hạng Nhất của Vương quốc Campuchia (2006).
  • 01 Huân chương Hữu nghị Xa – hạ – Mê – T’rây bậc cao hạng nhất của Chính phủ Hoàng gia Campuchia (2011).

Hiệu trưởng qua các thời kỳ


  • 1961-1964, Đỗ Phong
  • 1964-1966, Trần Phi Hùng
  • 1969-1969, Nguyễn Đức Song
  • 1969-1971, Đỗ Quang Hưng, Trung tướng
  • 1973-1976, Tăng Thiện Kim
  • 1976-1977, Nguyễn Mạnh Quân, Đại tá
  • 1977-1979, Nguyễn Như Thiết (1917-1991), Thiếu tướng (1974)
  • 1979-1987, Mạc Đình Vịnh, Thiếu tướng (1984)
  • 1987-1997, Lê Nam Phong, Trung tướng (1988)
  • 1997-2000, Đào Văn Lợi 
  • 2000-2008, Nguyễn Đức Xê, Trung tướng, Giám đốc Học viện Lục quân (2008-2011)
  • 2008-2012, Vũ Đức Hinh, Trung tướng (2012), PGS.TS.
  • 2012-2018, Từ Ngọc Lương, Thiếu tướng (2013), Trung tướng (2016), PGS.TS
  • 2018-nay, Nguyễn Ngọc Cả, Trung tướng, PGS.TS, nguyên Phó giám đốc Học viện Lục quân (Việt Nam).(2015-2018)

Chính ủy qua các thời kỳ


  • 1964-1966, Lê Thiện Tứ
  • 1966-1966, Tô Việt Hồng
  • 1966-1967, Nguyễn Văn Tây, nguyên Chính ủy Trung đoàn Đồng Tháp 1 khu 8 (1964-1966)
  • 1967-1969, Nguyễn Văn Thiều
  • 1969-1971, Lê Phải 
  • 1971-1973, Nguyễn Tường Quang
  • 1975-1976, Đặng Văn Thượng, Đại tá
  • 1976-1976, Vương Thế Hiệp
  • 1976-1978, Dương Cự Tẩm, Trung tướng (1984)
  • 1978-1982, Vương Thế Hiệp
  • 1982-1984, Đoàn Cận Thính
  • 1984-1989, Nguyễn Đình Trương
  • 1989-1996, Vũ Minh Tâm
  • 1996-2008, Nguyễn Viết Khai, Thiếu tướng
  • 2008-2010, Phạm Văn Dỹ, Thiếu tướng, hiện là Trung tướng, Chính ủy Quân khu 7 (2010-9.2018)
  • 2010-2017, Lê Thái Bê, Trung tướng (2012), nguyên Chính ủy Quân đoàn 4 (2007-2010)
  • 2017- 3.2020, Nguyễn Văn Hòa, Thiếu tướng (2014), Trung tướng (2018), nguyên Phó Chính ủy Trường Sĩ quan Lục quân 2
  • 3.2020- nay, Nguyễn Xuân Sơn, Thiếu tướng (2018), nguyên Chính ủy Quân đoàn 4 (2017-2020)

Phó Hiệu trưởng qua các thời kỳ


  • 2007-2010 Nguyễn Đức Tỉnh,PGS.TS Trung tướng(2013) Cục trưởng Cục Nhà trường, BTTM (2010-2016)
  • 2011-2015 Trần Trọng Ngừng, Thiếu tướng (2011), nguyên Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân đoàn 4
  • 2011-2019, Nguyễn Thế Thức, PGS.TS, Thiếu tướng (1.2015)
  • 2011-2019, Đỗ Duy Tần, PGS.TS, Thiếu tướng
  • 2014-2018, Phạm Xuân Trạo, Thiếu tướng (2014), nguyên Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn 4
  • 2018-nay, Lê Đức Thảo, Thiếu tướng (2018), nguyên Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn 4
  • 2019- nay, Vũ Thanh Hiệp
  • 2.2020- nay, Nguyễn Trọng Sỹ, nguyên Chủ nhiệm Khoa Chiến dịch, Học viện Lục quân.

Phó Chính ủy qua các thời kỳ


  • 2013-2017 Nguyễn Văn Hòa, Thiếu tướng (2014)
  • 2017- 4.2020, Vũ Đức Long, Thiếu tướng (2018), nguyên Phó Chính ủy Quân đoàn 4, Quân đội nhân dân Việt Nam
  • 4.2020- nay, Đỗ Hoàng Ngân, Chủ nhiệm Chính trị Trường Sĩ quan Lục quân 2.

Back to top button